Những bài được đăng trên Diễn Đàn Đông Tiến gồm có
:
- .

Những
Viên Gạch Lót Đường
Nhân ngày giỗ cố
Hội Trưởng Tống Văn Khánh (8-8-04 tại chùa Diệu Pháp), người viết
xin có đôi ḍng để tưởng nhớ anh cố Hội Trưởng và anh linh các Đồng
Tiến Trần Xuân Chính, Trần Văn Lương, Đoàn Văn Vui, Nguyễn Đ́nh Nại, Việt
Văn Trực v.v… đă làm những viên gạch lót đường cho Hội Ái Hữu
khóa 11 Đồng Tiến được thăng hoa. Nguyện cầu xin anh linh các bạn được
yên nghỉ nơi cơi Vĩnh Hằng luôn luôn pḥ hộ cho Hội Ái Hữu khóa 11 Đồng Tiến
ngày càng gắn bó, thương yêu, đoàn kết và phát triển thêm hơn nữa.
Đồng Tiến Phan
Quang Mười
Thưa các bạn Đồng
Tiến thân kính,
Hội Ái Hữu cựu
SVSQ khóa 11 Đồng Tiến/LTVK Thủ Đức có được ngày hôm nay là do chính bản thân
các bạn Đồng Tiến khắp nơi đă đóng góp không biết bao nhiêu công sức của
ḿnh vào việc xây dựng, củng cố và phát triển cho Hội thăng tiến.
Người viết muốn
ghi lại một vài nét chính mà Hội Ái hữu Đồng Tiến được h́nh thành vào
đầu thập niên 1970 tại Việt Nam và vào cuối năm 1992 tại Hoa Kỳ; đồng
thời cũng để ghi ơn những bạn Đồng Tiến đă hy sinh làm những
viên gạch lót đường cho Hội chúng ta h́nh thành và phát triển đến ngày nay.
Giai đọan
đầu thập niên 1970 tại Việt Nay.
Khóa 11 Đồng Tiến ra trường ngày 22/12/1961, được phân phối đi phục vụ
khắp 4 vùng Chiến Thuật gồm đầy đủ các quân binh chủng như: Không
Quân, Hải Quân, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Đông Quân, Nhảy Dù, Lực Lượng
Đặc Biệt, Biệt Đông Quân, Bộ Binh, Thiết Giáp, Pháo Binh, Công Binh, Truyền Tin, Quân
Nhu, Quân Cụ, Quân Báo, Quân Vận, Hành Chánh Quân Y, Hành Chánh Tài Chánh v.v… V́ thế nơi nào có QLVNCH đồn trú th́ nơi đó có sự hiện diện
của sĩ quan Đồng Tiến. Ngay cả Thủ Đô SàiG̣n, từ các Bộ, Nha Sở Trung
Ương, Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Cục và các Cục Tiếp Vận cũng đều
có sự góp mặt của các sĩ quan khóa 11 Đồng Tiến.
Các sĩ quan Đồng
Tiến đă hy sinh trong cuộc chiến từ ngày ra trường cho đến cuối thập
niên 1970 không phải là ít; nhưng các sĩ quan Đồng Tiến phục vụ tại Thủ
Đô Sàig̣n, Gia Định chỉ nghe và đọc được trên radio và báo chí mà chưa bao giờ
nh́n thấy tận mắt tại mặt trận và trên màn ảnh TV
như trường hợp Đồng Tiến Vũ Mạnh Hùng ĐĐT/TQLC đă nằm xuống
trong cuộc truy kích Việt Cộng tại vùng ven biên cầu B́nh Lợi, trong chiến cuộc
Tết Mậu Thân năm 1968. Cái chết của Đồng Tiến Vũ Mạnh Hùng ngay tại mặt trận Thủ Đô, đă gây một cảm xúc sâu sắc đặc
biệt cho những sĩ quan Đồng Tiến hiện đang phục vụ tại Thủ
Đô Sàig̣n lúc bâư giờ.
Từ cảm
xúc đó, vào đầu năm 1969, trong một buổi họp tại hội trường
Bộ Quốc Pḥng 63 Gia Long, để duyệt xét dự luật quy chế Đoàn Nữ Quân
Nhân/QLVNCH, trước khi chuyển sang Quốc Hội; Đồng Tiến Trần XuânChính lúc bây
giờ là Trưởng ban Pháp chế Pḥng I/TTM và người viết là Trưởng ban Quy
chế Tổng Nha TCTTQP/ Bộ Quốc Pḥng là 2 sĩ quan Đồng Tiến, và cũng là hai nhân
vật then chốt tŕnh bày quan điểm của Bộ Tổng Tham Mưu và Bộ Quốc
Pḥng về dự luật nói trên trước hội nghị.
Trong lúc nghĩ
giăi lao, CHÍNH có bàn chuyện với người viết về cái chết của Đồng Tiến
Vũ Mạnh Hùng, mà anh em Đồng Tiến đang phục vụ tại Thủ Đô chưa tập
hợp lại được, để làm một nghĩa cử đồng môn đúng ư
nghĩa, đối với bạn ta đă hy sinh tại Thủ Đô nầy, thật là điều
đáng tiếc! Trong lúc người viết và CHÍNH đang tṛ chuyện, th́ t́nh cờ chúng tôi
gặp một huynh trưởng khóa 1 Thủ Đức Nam Định (gốc Hành Chánh Tài Chánh được
biệt phái sang Phủ Thủ Tướng) tạt ngang qua pḥng hội. Sau cái bắt tay chào
thăm hỏi, ông ta cho biết là Thứ Sáu tuần sau khóa 1 Thủ Đức của ông đă
được Bộ TTM cho phép tổ chức buổi họp mặt toàn khóa tại câu lạc
bộ Huỳnh Hữu Bạt trong phi trường Tân Sơn Nhất, nếu như hai chúng
tôi muốn tham dự th́ điện thoại cho ông ta để ông ta gởi giấy mời.
Sau đó CHÍNH
nói với người viết là sự việc đúng như vậy, Pḥng 1?TTM vừa mới
phổ biến Bưu Điệp chỉ thị cho các đơn vị cấp phép đặc
biệt cho các sĩ quan khóa 1 Thủ Đức, được phép về Sàig̣n tham dự buổi
họp mặt toàn khóa mà ông ấy vừa nói. Ngoài ra, Khóa 1 Thủ Đức cũng đang nọp
hồ sơ xin Bộ Nội Vụ ban hành Nghị định cho phép thành lập Hội Ái
Hữu hoạt động chính thức theo tinh thần Đạo Dụ số 10. CHÍNH c̣n nói là
khóa 1 Thủ Đức đă có nhiều cấp Đạị tá và Tướng mà họ c̣n ở
vào cương vị lảnh đạo quốc gia và quân đội, nên họ muốn làm
ǵ mà chẳng được.
Người viết
có bàn với CHÍNH là khóa 11 của ḿnh (mặc dù cấp bậc nhỏ), nhưng phục vụ
ở Thủ Đô cũng khá nhiều, nhất là tại các Phủ, Bộ, Nha, Sở Trung Ương,
Bộ TTM, các Tổng Cục, Cục Tiếp Vận, và các đơn vị quanh vùng Gia Định
Chợ Lớn; mỗi nơi chúng ta có ít nhất là một
người. Vậy tại sao chúng ta không kêu gọi các bạn sĩ quan Đồng Tiến tại
các cơ quan, đơn vi nói trên, nên kết hợp lại để làm một công việc
có ư nghĩa; tương tự như khóa 1 Thủ Đức Nam Định đang làm và sẽ làm.
Người viết thiểt nghĩ là khóa 1 làm được th́ khóa 11 chúng ta cũng có thể
làm được thôi; v́ Bộ Nội Vụ không thể nào ban hành Nghị Định cho khóa
1, mà từ chối không cho khóa 11 được cả. CHÍNH rất tán đồng và hứa
sẽ cố gắng làm viên gạch nối với các bạn khác để thực hiện
việc nầy.
Thế là cuối
năm đó, buổi họp mặt đầu tiên của khóa 11 Đồng Tiến được
tổ chức vào ngày 22/12/1969, để kỷ niệm 8 năm ngày măn khóa, tại nhà hàng Động
Phát, Chợ Cũ. Trong buổi họp mặt đầu
tiên nầy, có khoảng trên 20 bạn phục vụ ở trung ương và các vùng phụ cận,
mà người viết không thể nhớ tên hết được; chỉ nhớ mang máng
một số bạn sau đây: Trần Xuân Chính, Ngô Thành Đặng, Nguyễn Văn Nết, Hoàng
Hữu Đôn, Lê Khải Hải, Đoàn Văn Vui, Trần Văn Lương, Nguyễn Văn Măng,
Nguyễn Hữu Liễu, Nhan Hữu Hậu, Trần Ngọc Giao, Phạm Thanh Trung, Phạm
Văn Sự, Trần Thiện Hiệp, Cao Sanh Nhờ v.v…
Những năm
kế tiếp, năm nào cũng đến ngày 22 tháng 12, khóa 11
Đồng Tiến đều có tổ chức buổi họp mặt toàn khóa, và Đồng
Tiến Ngô Thành Đặng là người rất có công đă đứng đơn xin phép Pḥng
1/ Bộ TTM ban hành Bưu Điệp chỉ thị các đơn vị, cấp phép đặc
biệt cho các sĩ quan Đồng Tiến về Sàig̣n tham dự
buổi họp mặt toàn khóa vào ngày 22 tháng 12 hằng năm Đồng
thời Đồng Tiến Đặng cũng đứng đơn xin Bộ TTM thành lập Hội
Ái Hữu tương tự như khóa 1 Thủ Đức. Hồ sơ được chuyển
lên Bộ Quốc Pḥng cứu xét, và sau đó chuyển sang Bộ Nội Vụ để ban
hành Ngị Định thành lập Hội Ái Hữu Cựu SVSQ/TB Khóa 11 Đồng Tiến/LTVKTĐ. Việc
theo dơi và bổ túc hồ sơ cho hợp lệ mà Bộ Nội Vụ đ̣i hỏi như:
Nơi đặt trụ sở, bản hiệu, điện thoại, đại diện các
vùng, biên bản điều tra của Quân Cảnh Tư Pháp v.v… đều được
Đồng Tiến Đoàn Văn Vui đă giăi ngủ và đang hành nghề thầu khoán (có cô em gái
là Đoàn Thị Mừng là công chức đang làm việc tại Bộ Nội Vụ), và Đồng
Tiến Trần Văn Lương (Chủ Sự Pḥng Vật Liệu/Bộ Xây Dựng Nông
Thôn) lo giúp, nên hồ sơ được xúc tiến rất nhanh chóng so với các khóa đàn
anh khác. Đến ngày 22 tháng 12 năm 1972, Hội Ái Hữu cựu SVSQ khóa 11 Đồng Tiến/LTVKTĐ
được chính thức thành lập, và buổi tổ chức họp mặt toàn khóa tại
câu lạc bộ/Bộ Tư Lệnh Hải Quân dưới quyền chủ tọa của
Thiếu Tướng Lê Văn Nghiêm cựu chỉ huy trưởng Liên Trường Vỏ
Khoa Thủ Đức. Và kể từ ngày này, Hội Ái Hữu
khóa 11 Đồng Tiến được phép hoạt động khắp 4 Vùng Chiến Thuật
do NghịĐịng của Bộ Nội Vụ. Rất tiếc là toàn bộ hồ sơ thành
lập Hội do người viết là Tổng Thư Kư của Hội lưu giữ tại
văn pḥng Thâu Chi Viên/Bộ QuốcPḥng; nhưng đành chịu không nhớ nỗi số
và ngày của Nghị Định, mà chỉ c̣n nhớ chắc chắn là năm 1972 Hội chúng
ta đă có Nghị Định chính thức hoạt động, và Nghị Định nầy đă
được đăng vào Công Báo Việt Nam Cộng Ḥa và Quốc Pḥng Quân Lực Công Báo
năm 1972. Nếu như muốn truy t́m Nghị Định nầy, th́ cũng có thể vào các
thư viện lớn của Hoa Kỳ xem các Công BáoVNCH năm 1972 th́ sẽ thấy rỏ.
Giai đoạn
2 tại Nam California Hoa Kỳ.
Trước khi
sang định cư tại Hoa Kỳ, người viết được một số bạn
Đồng Tiến tại quê nhà, nhất là Đồng Tiến Phạm Văn Sự, Nguyễn Văn
Nết, Nguyễn Văn Măng, Lê Văn Vàng (là các thành viên trong Ban Chấp Hành cũ được
bầu ra trong ngày đại hội ngày 22/12/1974 tại Hội Quán Công Binh) ủy thác là ra hải
ngoại được tự do rồi, th́ nên nhớ cố gắng kêu gọi anh em Đồng
Tiến tái lập lại Hội Ái hữu Đồng Tiến tại hải ngoại, ngơ hầu
có phương tiện sinh hoạt, nhằm giúp đở lẫn nhau giữa các bạn Đồng
Tiến ở nơi xứ tạm dung và các bạn c̣n kẹt lại nơi quê nhà. Đồng Tiến Sự nói với người viết là anh đă có liên lạc
thư với Việt Văn Trực và cho biết ngày giờ gia đ́nh người viết
đến Mỹ rồi; thế nào Trực cũng đến thăm và sẽ đưa người
viết đến gặp Nguyễn Hậu, tức là Nguyễn Đ́nh Nại (Quân Cụ) hiện
là Hội Trưởng Cựu Tù Nhân Chính Trị tại Hoa Kỳ, để nhờ Hậu
giúp đở việc tái lập Hội tại hải ngoại. Lúc bây giờ người
viết có nói với SỰ và NẾT là đừng nên kỳ vọng nơi người viết,
bởi v́ khi đến Mỹ chưa biết việc ǵ sẽ xảy ra cho gia đ́nh người
viết nữa, th́ làm sao nói trước việc kết hợp khóa đuợc. Hơn nữa,
người viết tin tưởng rằng các bạn cũng sẽ lần lượt ra
đi như người viết trong nay mai, và khi sang đến Mỹ rồi th́ chúng ta mới
biết được việc ǵ ḿnh có thể làm được, c̣n bây giờ nói th́ quá sớm.
May mắn thay!
ngày đầu tiên đến Mỹ, người viết rất hân hạnh được
các bạn Đồng Tiến Việt Văn Trực, Trần Văn Nở, Nguyễn Văn Nên,
Đổ Mạnh Bách và Dương Hồng Biểu đến thăm. Đây là niềm vui sướng
và an ủi vô cùng quí giá cho gia đ́nh người viết mới đặt chân đến
xứ Người. Ngày hôm sau, vợ chồng Trực đưa gia đ́nh người viết
đi ăn sáng, sau đó Trực đưa người viết đến văn pḥng Hội
Cựu Tù Nhân ChínhTrị để gặp Đồng Tiến Nguyễn Đ́nh Nại (lúc bây giờ
đổi tên là Nguyễn Hậu). Được gặp lại người viết Nại mừng
vô cùng (v́ trước năm 1975 khi Nại c̣n phục vụ tại Lục Quân Công Xưởng,
hằng tháng anh Nại thường đến pḥng Thâu Chi Viên gặp người viết
để xin được nộp nhiều lần trong tổng số tiền trên lệnh
thâu ngân mà Nại bị quy trách phải hoàn trả lại cho Chính Phủ). Sau khi tay bắt
mặt mừng, Nại liền mời người viết và Trực sang tiệm Long Phụng
bên cạnh văn pḥng để uống cà phê và hàn huyên tâm sự. Nại nói chuyện liên miên
bất tận, kể nào là chuyện anh vượt biển đến Mỹ như thế
nào, đấu tranh tuyệt thực ở Washington DC, liên lạc với bà Khúc Minh Thơ ra
làm sao, và làm thế nào để có được chương tŕnh giúp đở anh em HO mới
sang như hiện nay v.v… Anh Nại c̣n cho người viết biết là anh c̣n có một
danh sách rất nhiều bạn Đồng Tiến sang Mỹ năm 1975, cũng như vượt
biển trong thập niên 1980, và vừa mới sang Mỹ theo diện đoàn tụ và HO, hiện
đang cư ngụ tại Quận Cam như Trần Thọ Long, Phạm Bá Mạo, Nguyễn
Thế Hà,
Lê Khải Hải, Nguyễn Tứ Hải, Trần Duy Ḥe, Nguyễn Chấn, Hoàng Liên, Lă Văn
Ngọc, Nguyễn Văn Nên, Diệp Phiêu, Việt Văn Trực, Dương Hồng Biểu,
Đổ Mạnh Bách, Trần Văn Nở v.v…
Những lần
gặp lại Nại sau đó, người viết và anh Nguyễn Văn Nên đều nhận
thấy anh Nại hiện đang là Hội Trưởng Hội Cụu TNCT và có sẵn cơ
ngơi để anh em ĐT dễ dàng sinh hoạt, mới đề nghị anh Nại nên đứng
ra kêu gọi anh em Đồng Tiến kết hợp lại, để xin tái lập lại Hội
Ái Hữu Đồng Tiến đă có trước năm 1975. Anh Nại rất tán đồng
và nói rằng: việc kêu gọi các bạn Đồng Tiến và việc lo các thủ tục xin
tái lập Hội th́ anh xin sẵn sàng; nhưng anh không thể nào cùng một lúc giữ hai chức
vụ Hội Trưởng được. Do đó, anh Nại xin được đứng
ngoài Ban Chấp Hành Hội để tích cực hổ trợ; đồng thời đề
nghị anh Nên đứng ra mời gọi anh em đến tại trụ sở Hội Cựu
TNCT của anh Nại, hoặc tại nhà riêng của anh Nên, tùy theo thời gian thuận tiện,
để chúng ta cùng bàn thảo việc tổ chức và quyết định xin tái lập
Hội.
Sau đó liên lạc
được với các bạn Trần Quang Huế, Nguyễn Gia Lễ, Lưu Công Hảo
ở Bắc Cali; anh Nguyễn Phan Tựu, Cao Sanh Nhờ ở Colorado; anh Trần Thiện Hiệp,
Nhan Hữu Hậu ở Seattle WA, anh Nguyễn Hữu Liễu, Bùi Văn Lớn và Nguyễn
Văn Quang ở Oregon; Trần Văn Thông và Trần Quang Thế ở Texas là những bạn
rất nhiệt t́nh tham gia, cổ vũ việc tái lập Hội. Sau nhiều lần họp
tại nhà anh NguyễnVăn Nên, mới tiến đến quyết định việc tổ
chức ngày họp mặt đầu tiên là ngày Chủ Nhật 18/12/1992 (thay v́ đúng là ngày
22/12 như truyền thống trước năm 1975) tại trụ sở của Hội Cao
Niên Á Mỹ trong khu chợ Little Sàig̣n. Mọi việc phổ biến thư mời, đăng
báo, mời gọi trên đài phát thanh hoặc thủ tục giấy tờ xin tái lập Hội
anh Nại t́nh nguyện đảm nhiệm. Đây là thời điểm đầu tiên đánh
dấu việc tái lập Hội Ái Hữu Khóa 11 Đồng Tiến tại Hoa Kỳ, mà phải
thành thật công nhận là nhờ công lao của hai anh Nại và Nên nhiều nhất, trong buổi
ban đầu rất nhiều khó khăn cho việc kết hợp các bạn Đồng Tiến
lại với nhau.
Những năm
sau đó, anh Nại là người luôn sát cánh với anh em Nam Cali để soạn thảo
nội qui và bản dịch tiếng Anh, cốt để gởi lên Sacramento để xin
hợp thức hóa Hội giống như hội Cựu TNCT của anh Nại. Nhưng rất tiếc, Trời không chiều ḷng người, khi chưa hoàn
tất công việc th́ anh Nại lâm trọng bệnh rồi mệnh chung. Người viết
c̣n nhớ, khi vào thăm anh tại bệnh viện UCI, anh nói với người viết rằng,
về văn pḥng của anh nói với anh Chức kéo ngăn hộc bàn cuối cùng bên phải
để lấy các bản nội qui cả Anh lẫn Việt để giao cho anh Nên, tiếp
tục làm thủ tục xin hợp thức hóa cho Hội chúng ta. Tuy nhiên, lúc bây giờ anh Nên
phải lo điều hành một shop may mà anh mới vừa xây dựng, nên không thể nào có
th́ giờ rảnh rỗi để lo công việc cho Hội cả. C̣n về phần người
viết phải chăm lo cho bệnh t́nh của bà xă vừa mới giăi phẫu bệnh cancer
bao tử, nên cũng không c̣n đủ tinh thần lo cho những công việc của Hội.
Rất may lúc bây giờ có anh Huế và anh Lễ ở San José rất có ḷng, sẳn sàng tiếp
sức chu toàn mọi công việc của Hội c̣n đang dang dỡ.
Do đó, cuối
năm 1995 đại hội lần thứ 4 được tổ chức lần đầu
tiên tại San Jose. Người viết là người tiến cử anh Huế làm Hội trưởng,
và cũng là người đại diện anh hội trưởng Nguyễn Văn Nên bàn giao
chức vụ hội trưởng cho anh Trần Quang Huế, gồm các bản dự thảo
nội qui của Hội do anh Nại đă soạn thảo, cùng với số tiền mặt
của thủ quỷ Hoàng Văn Thạch nhờ chuyển giao giùm. Việc làm quan trọng
nhất trong nhiệm kỳ đầu của anh Huế là phát hành Bản Tin, kết hợp
các bạn ĐT xa gần lại với nhau, và thiết lập một danh sách toàn khóa, đặt
nền tảng căn bản cho Hội áp dụng và tiếp tục phát triễn về sau. Đến đại hội 6 tại Nam Cali anh Huế được
tín nhiệm lưu nhiệm thêm một nhiệm kỳ 2 năm nữa, và đến đại
hội 8 tại San Jose, chính người viết đề nghị trước đại
hội để lưu nhiệm anh Huế thêm một năm nữa, nhằm mục đích để chuẩn bị nhân sự cho đại hội 9 tại
Nam Cali sẽ bầu lại Hội trưởng thay thế anh Huế. V́ theo quan niệm của
người viết, đă cùng một khóa th́ bất cứ anh nào trong khóa cũng đều
có thể làm Hội trưởng được cả, không nhất thiết phải là anh
Huế làm Hội trưởng muôn năm mới được. Hơn nữa, theo luật
phát triển tự nhiên th́ người đảm nhiệm chức vụ sau, rút kinh nghiệm
thực tiển; thực hành luôn tốt đẹp và thành
công hơn những người đi trước. Vấn đề quan trọng là những
người đi trước có thực tâm truyền lại các kinh nghiệm, dọn đường cho những người kế thừa và hết ḷng
cổ vũ tinh thần cho những người đi sau nhận lảnh trách nhiệm hay
không, mới là chuyện đáng để cho chúng ta bàn thảo mà thôi. Ngoài ra, anh Huế đă
hy sinh phục vụ cho Hội một thời gian khá dài 5 năm thay v́ 2,3 năm như nhiệm
kỳ đầu của anh Nên. Phải thành thật ghi nhận công lao to lớn của anh
Huế đă đóng góp cho tập thể Đồng Tiến từ trước đến nay,
mà hiện nay vẫn c̣n đang tiếp tục.
Đại hội
lần thứ 9 năm 2000 tại Nam Cali, anh Tống Văn Khánh được tín nhiệm
giữ chức vụ hội trưởng thay anh Huế. Anh Khánh lúc bây giờ là Chi hội
trưởng Nam Cali được đại hội 4 bầu ra tại San Jose từ năm
1995, và là người tổ chức 3 kỳ đại hội tại Nam Cali rất thành công
là: đại hội 5 tại nhà hàng ÁnhHồng, đại hội 6 tại nhà hàng Kim Hải
và đại hội 9 tại nhà hàng Paracel. Nhiệm kỳ
hội trưởng của anh Khánh được ấn định lại là 3 năm thay
v́ 2 năm như trước; nhưng rất tiếc chưa đầy 2 năm th́ anh Khánh
đă lâm trọng bệnh rồi mệnh chung. Anh Khánh đă để lại gia tài cho Hội
rất đáng giá mà không một thành viên Đồng Tiến nào có thể quên công lao của anh được:
-Thứ nhất.-
Anh Khánh đă quyết định cải tiến Bản Tin trở thành “Tập San Đồng
Tiến” kể từ số 25 sau ngày đại hội 9, và phát hành đều đặng
vào ngày đầu mỗi tam cá nguyệt, nhưng anh cũng đă rất tiết kiệm và
hạn chế tối đa số chi phí cho Tập San từ $500 đến tối đa $1,000.00
mà thôi (điều nầy anh Ḥe là người biết rỏ nội vụ hơn ai hết).
Phải thành thật mà nói người có công nhiều nhất trong việc cải tiến Tập
San từ số 25 đến số 35 là Đồng Tiến Trần Duy Ḥe, Nguyễn Văn Vỹ
và Nguyễn Ngọc Trầm.
-Thứ hai.-
Anh Khánh nhận thấy số tiền tồn quỷ của hội lên đến 5,6 ngàn dollars
mà anh Huế sẽ bàn giao cho tân ban chấp hành trong những tháng sắp đến, anh không
biết phải lưu giữ làm sao cho hợp pháp; mà nếu giao cho bất cứ cá nhân nào
anh cũng sợ là không thể nào tránh được bất trắc có thể xảy ra. Trước
vấn đề nan giăi anh Khánh có tham khảo ư kiến với anh Ḥe và người viết,
trước khi anh quyết định xin tiểu bang California hợp thức hóa Hội, trở
thành một “hội bất vụ lợi, non profit”, để số tiền của
Hội được bảo đảm kư thác vào trương mục một ngân hàng hợp
pháp; và nếu muốn rút tiền ra cũng phải có ít nhất hai người kư tên mới
rút ra được. Đây là việc làm rất quan trọng, mà anh Nại đă nghĩ ngay từ
cuộc họp đại hội đầu tiên năm 1992, nhưng chưa làm được
th́ anh đă mệnh chung, măi cho đến 9 năm sau 2001 anh Khánh mới nối tiếp để
hoàn tất.
- Thứ ba.-
Anh Khánh đă quyết định nền móng cho hội thực hiện trong việc “thăm
viếng, phân ưu và chung sự” cho gia đ́nh Đồng Tiến (trích bài “Hướng
Đi” của anh Khánh đăng trong Tập San Đồng Tiến số 28 ngày 1-10-2001) như
sau:
a)- Gia đ́nh
Đồng Tiến có bệnh tật hay gặp hoạn nạn: Hội, Chi Hội đến
thăm viếng, an ủi tinh thần, tùy theo bệnh trạng mua quà ủy lạo v.v…
b)- Tứ thân
phụ mẫu từ trần: đến thăm viếng với ṿng hoa phân ưu và đăng
báo chia buồn.
c)- Trường
hợp bản thân Đồng Tiến từ trần: Hội nên trích quỷ một số tiền
tượng trưng $300.00 (bỏ vào một phong b́) để phúng điếu, một ṿng
hoa phân ưu, một lá cờ VNCH để phũ lên quan tài, trước khi hạ huyệt
đọc điếu văn, và đăng báo chia buồn. Tùy theo hoàn cảnh tại mỗi
tiểu bang, các chi hội ứng trước số tiền, cố gắng thực hiện
đầy đủ nghi thức đối với gia đ́nh người quá cố. Hội
sẽ bồi hoàn các chi phi liên hệ cho Chi hội sau.
Ngoài ra, theo dự
tính của anh Khánh tiết lộ cho người viết biết, sau khi anh dự đại
hội 10 tại Texas về là anh định thiết lập một quỷ chung sự cho
bản thân Đồng Tiến mỗi khi mệnh chung. Ban đầu, mỗi hội viên gia nhập
quỷ chung sự ứng trước mỗi người $50.00 dollars. Nếu như có 100 hội
viên gia nhập th́ quỷ hội có sẳn $5,000.00 cho gia đ́nh người quá cố, để
giúp cho tang gia chu toàn việc chung sự. Đồng thời Hội yêu cầu các hội viên đóng
góp mỗi người $50 để bù đắp lại quỷ ứng trước như
lúc ban đầu, để Hội luôn có sẳn một số tiền để trợ giúp
gia đ́nh Đồng Tiến khi mệnh chung. V́ anh Khánh lư luận là hiện nay chúng ta mỗi
khi mừng đám cưới cũng phải ít nhất là $50, trong khi đó chẳng may bạn
ta nằm xuống, chúng ta lại không đi phúng điếu được $50 hay sao? Đây là
cách tương trợ thiết thực nhất Hội cần phải thực hiện, v́
tang gia không thể từ khước số tiền nói trên với lư do là sợ con cháu phải
mang nợ người phúng điếu; mà trái lại đây là quyền lợi của người
quá cố được hưởng, mà Hội có nhiệm vụ phải thực hiện.
Hiện thời các hội đoàn ở Nam Cali cũng đă thực hiện quỷ chung sự
nầy từ lâu rồi, như hội Việt Nam Tương Tế, hội Tây Sơn B́nh
Định v.v… Điều đáng tiếc là anh Khánh đă giă từ chúng ta quá sớm, nên những
dự tính của anh muốn thực hiện tốt đẹp cho hội trở thành dang dỡ.
Anh ra đi là một sự mất mát quá lớn đối với đại gia đ́nh Đồng
Tiến. Xin thành kính tri ân tấm ḷng cao đẹp v́ tập thể Đồng Tiến của
anh cố Hộ Trưởng Tống Văn Khánh.
Nhân mùa Vu Lan Giáp
Thân 2004, xin đốt nén hương ḷng để tưởng nhớ anh linh các bạn Đồng
Tiến đă giă từ gia đ́nh Đồng Tiến trên đất nước Hoa Kỳ để
về miền Miên Viễn trong hơn một thập niên qua (kể từ 1993 đến nay),
đó là các Đồng Tiến: Nguyễn hữu Phước, Đàm Duy Tâm, Trần Chung Dung, Nguyễn
Đ́nh Nại, Phạm Xuân Nghĩa, Bùi Ngọc Ánh, Trần Văn Nở, Hà Mộng Hùng, Nguyễn
Văn Tài, Phan Bá Ṭng, Tống Văn Khánh và Viết Văn Trực tại Nam California; Mai Văn
Kính tại Bắc California; Đoàn Đức Minh và Trần Công Minh tại Texas; Nguyễn Quốc
Lâm tại Washington State; Lê Phát Cang tại Georgia; Lê Hữu Minh tại Virginia; và rất có thể
c̣n có những bạn khác nữa, đă ra đi mà gia đ́nh Đồng Tiến chưa được
biết đến v́ thiếu thông tin liên lạc.
Những ḍng cảm
nghĩ trên đây chỉ nhằm mục đích nói lên cách cư xử tiêu biểu của một
con người, và cũng là một thành viên Đồng Tiến, sống có t́nh, có nghĩa, có trước,
có sau, và những cảm nghĩ nầy cũng rất có thể chỉ là chủ quan của
người viết mà thôi. Nếu các bạn Đồng Tiến nào xét thấy có điều ǵ
không đúng, hoặc sai trái hay phật ư ḿnh, th́ cũng xin niệm t́nh Đồng Tiến mà lượng
thứ cho. V́ người viết tuổi đời cũng đă khá cao mà trí nhớ lại
suy kém, nên thành thật xin lỗi vậy!
Cuối cùng người
viết xin cám ơn các bạn Đồng Tiến xa gần đă bỏ th́ giờ để đọc
những ḍng cảm nghĩ nầy./-
SANTA ANA, MÙA VU LAN GIÁP THÂN
2004
Đồng Tiến Phan
Quang Mười
VÀI LỜI PHI LỘ
Thưa quư bạn
Đồng Tiến cùng thân hữu và gia đ́nh thân kính.
Website
Diễn Đàn Đồng Tiến được h́nh thành kể từ 01-01-2008 do Đồng Tiến:
-Phan Quang Mười chịu trách nhiệm tổng quát và Đồng
Tiến Nguyễn Nghiêm chịu trách nhiệm về mặt kỷ thuật, với sự cố
vấn và yểm trợ của các bạn Đồng Tiến Nguyễn Văn Nên, Trần Duy Ḥe,
Hà Kim Danh và Ngô Đ́nh Ḥa tại Nam California.
Ngoài ra c̣n được
sự tiếp tay của các bạn Đồng Tiến: Nguyễn Văn Tiên ở Bắc California
-Dương Văn Hưng, Vũ Văn An, Lâm Gia Kinh, Ngô Thành Đặng, Phan Huy Hoàng ở Texas; -Đặng Chí B́nh ở MA; -Vỏ Thái Hưng, Nguyễn Hồng
Nhung ở VA; -Nguyễn Phan Tựu ở CO; -Nguyễn Trí
Hoà, Phạm Quang Ngọc, Huỳnh Bá Phụng ở Úc Châu và Tạ Quang Phục ở Pháp Quốc
dồng hổ trợ.
Website Diễn
Đàn Đồng Tiến này không do Hội Ái Hữu Cựu Sĩ Quan Khóa 11/Đồng Tiến chủ
trương mà do một nhóm các bạn Đồng Tiến độc lập h́nh thành đẻ
cùng nhau chia sẻ tâm t́nh, trao đổi quan điểm, văn hóa, thông tin, nghị luận,
t́m ṭi học hỏi những lời hay ư đẹp, những điều mới lạ vừa
xảy ra trên internet, chuyển tải những h́nh ảnh sinh hoạt của cá nhân cùng gia đ́nh
v.v…
Nhóm chủ biên
website Diễn Đàn Đồng Tiến sẽ dành cho mỗi bạn Đồng Tiến tham gia vào website
này một trang riêng biệt để đưa các h́nh ảnh cá nhân và gia đ́nh cùng những
sinh hoạt, quan điểm riêng tư hay phổ quát cần truyền đạt cho mọi
người hiểu biết.
Cuối cùng xin
các bạn ONLINE vui ḷng đóng góp ư kiến và cho biết những điều cần bổ
túc và cải sửa ngơ hầu giúp cho Diễn Đàn Đồng Tiến mỗi ngày một tốt
đẹp hơn.
Trân Trọng.
(Ghi chú : bên dưới
cùng , có mục đóng góp ư kiến, xin các bạn theo sự chỉ dẩn diên vào
các ô trống và gởi đi theo dịa chi e-mail đă ghi.
___________
L̉NG CHUNG THỦY
Thân tặng quư chị Nàng Dâu Đồng Tiến
thân thương nhất của các Cựu
Sĩ Quan
Khóa 11 Đồng Tiến/LTVK Thủ Đức.
Đồng
Tiến Phan Quang Mười
Danh từ “Nàng Dâu Đồng Tiến” được Hội Ái Hữu Cựu Sĩ
Quan Khóa 11 Đồng Tiến/LTVKThủ Đức xử dụng để chỉ danh người
phối ngẫu của các Cựu Sĩ Quan khóa 11/Đồng Tiến đă kết hôn trước
hoặc sau ngày 22-12-1961 (ngày măn khóa) nhưng đến ngày nay (sau 47 năm kể từ ngày
ra trường) vẫn một L̉NG CHUNG THỦY với chồng với con.
Nói
đến “Nàng Dâu Đồng Tiến” là phải nói
đến “ḷng chung thủy”; mà “ḷng chung thủy” là một cái ǵ lâu dài và
phải mất nhiều thời gian mới đạt đến. Muốn đo ḷng chung thủy
của các nàng dâu Đồng Tiến đ̣i hỏi phải có một thời gian thật dài, hàng
chục, chục năm …, trải qua nhiêu thử thách trong cuộc sống cùng với các
biến đổi của cuộc đời. Biến cố ngày 30-4-1975 toàn thể miền
Nam Việt Nam trong đó có đại gia đ́nh Đồng Tiến chúng ta
như từ trên trời rơi xuống. Tất cả đều chịu chung cảnh nước
mất, nhà tan cửa nát. Cha mẹ xa con, vợ xa chồng, anh xa em v.v…, gia đ́nh ly tán.
Hầu hết các Đồng Tiến đều bị giam giữ trong các trại tù CS từ 3
năm, 5 năm, 10 năm hay hơn nữa.
Những năm tháng dài tù tội này là thời gian để chứng nghiệm ḷng chung
thủy, t́nh yêu sắt son của các nàng dâu Đồng Tiến mà không phải người phụ
nữ nào cũng ǵn giữ được; nhất là khi tuổi đời của họ
c̣n quá trẻ và sự xa cách khiến cho người ta dễ sanh ḷng phản bội nhau. Giă
dụ nếu có, âu cũng là chuyện nhi nữ thường t́nh, các bậc nam nhi cần nên
rộng lượng thứ tha cho họ hơn là trách móc. Giă thuyết như mấy bà phụ
nữ đi ở tù CS, c̣n các đấng mày râu lại ở nhà nuội con lo gia đ́nh th́
sẽ thấy số lượng mấy ông phản bội mấy bà nhiều gấp bội
so vối tỷ lệ mà mấy bà đă phản bội mấy ông trong cuộc đổi
đời 1975.
Người đời thường nói: “Đằng sau t́nh yêu và hôn nhân bao giờ cũng
thấp thoáng bóng ma của phản bội”. Và cả vợ lẫn chồng đều
có thể bị con ma phản bội ŕnh rập tấn công, chiều chuộng, quyến rũ
và lung lạc. Nhưng người viết nhận thấy phía đàn ông bao giờ cũng
chiếm đa số, h́nh như tinh thần các đấng mày râu chúng ta yếu đuối
hơn quư bà chăng?! Thế cho nên giữ được ḷng chung thủy là một điều
không phải dễ dàng.
Thú thật trước năm 1975, người viết cũng đă từng có nhiều
lần sa vào bóng ma phản bội ấy và súy chút nữa là đă phản bội người
bạn đời yêu dấu của ḿnh. Cũng may nhờ ḷng bao dung, sự nhường nhịn
và trân quí của người bạn đời mà người viết thức tỉnh, biết
dừng lại đúng nơi, đúng lúc. Phải nói thật với ḷng ḿnh là bóng ma ấy
có sức quyến rũ, lung lạc, luôn ŕnh rập người viết ở ngoài đời.
Nhiều lúc bị bóng ma đó ám ảnh, mỗi khi về nhà, chỉ chờ có một lời
to tiếng, một sự giận hờn, oán trách hay gắt gỏng của người bạn
đời, là bóng ma ấy sẽ ập ra cướp đi
mất hạnh phúc gia đ́nh của người viết ngay. Nhưng may thay và cũng là điều
huyền diệu thay, mỗi khi như thế người viết về đến nhà đối
diện với người bạn đời th́ hầu như sự trông chờ (trong lúc
bị bóng ma ám ảnh) của người viết đă không xảy ra và tự nhiên bóng ma
phản bội ấy bổng dưng biến đâu mất. Điều nầy chứng tỏ
người bạn đời đă cố t́nh đè nén, nhường nhịn, và rất bao
dung, không muốn tạo ra bất cứ chất mồi nào cho ngọn lửa phản bội
của người viết có cơ hội để phát sinh. Nhờ thế mà cuộc hôn
nhận của người viết mới kéo dài hơn 53 năm tràn đầy hạnh phúc
và chỉ chấm dứt khi người bạn đời nhắm mắt xuôi tay vào ngày 20-10-2005.
V́ vậy, người viết trộm nghĩ sự phản bôi nếu có xảy ra, một
phần lớn do người phối ngẫu thiếu ḷng bao dung, nhường nhịn và
tương kính lẫn nhau.
Hoàn cảnh lịch sử thay đổi sau 30-4-1975, khiến mọi gia đ́nh bị
phân tán v́ những người chồng hay người yêu bị tập trung trong trại tù
cộng sản. Đó là thời gian mà người viết cho rằng những người vợ
trẻ bị thử thách ghê gớm nhất về ḷng chung thủy của ḿnh khi phải đối
diện với nỗi lo sợ, hoang mang về tương lai, sự cô đơn về tinh
thần, cộng thêm những thiếu hụt về miếng cơm manh áo cho cá nhân ḿnh và đàn
con thơ dại. Dĩ nhiên vào thời gian này, những kẻ thắng trận và một số
người không phải vào tù CS đă lợi dụng yếu điểm ấy của những
người phụ nữ để áp lực, hay mua chuộc họ.
Đứng trước những nghịch cảnh như thế, chúng ta phải công nhận
rằng hầu hết những nàng dâu Đồng Tiến ở vào trường hợp đáng
thương ấy đă giữ được ḷng chung thủy, cũng bởi t́nh yêu của
họ dành cho người bạn đời và những đứa con của họ quá mạnh
mẽ và bền vững. Điểm đặc biệt mà người viết muốn ca ngợi
về sự chung thủy trong t́nh yêu của những người phụ nữ, tuy chỉ
mới là người yêu thôi, không hề có hôn nhân hay con cái ràng buộc với người
đàn ông mà họ yêu thương; vậy mà họ vẫn chờ đợi ngày về, ngày
đoàn tụ mơ hồ ấy trong một thời gian rất dài không thể nào đoán trước
được.
Trong những năm tháng sau ngày chồng bị vào tù CS, những nàng dâu Đồng Tiến
phải đối diện với một xả hội cộng
sản đầy gian manh xảo trá. Họ đă phải một ḿnh gánh chịu không biết
bao nhiêu nỗi oan khiêng, nghiệt ngă của cuộc đổi đời. Họ không những
là một người dâu hiền phải chăm lo cho gia đ́nh bên chồng, mà nghiểm nhiên
trở thành người chủ gia đ́nh thay chồng làm bổn phận vừa người
cha vừa là người mẹ, phải t́m đủ mọi cách để mưu sinh hầu
bảo bọc gia đ́nh, nuôi nấng, day dỗ con cái ăn học nên người, c̣n là thân
c̣ lặn lội trên khắp nẽo đường đất nước từ Nam ra Bắc,
từ rừng sâu núi thẳm, hang cùng ngỏ hẹp để thăm nuôi chồng trong các trại
tù CS. Là những phụ nữ thuộc gia đ́nh vọng gia thế tộc của xă hội
miền Nam, bổng dưng trở thành người thứ dân hạng bét của xă hội
cộng sản th́ làm sao tránh khỏi buồn đau, khổ cực, tủi hổ… nhưng
họ đă hiên ngang đứng thẳng nh́n cuộc đổi đời bằng cặp
mắt tự tin sẽ có một ngày mai tươi sáng.
Mặt khác, những Nàng Dâu Đồng Tiến may mắn
thoát được ra nước ngoài sau ngày 30-4-1975, hoặc cho đến cuối thập
niên 1990 (bằng mọi phương tiện, mọi phương cách: di tăn, vượt biển,
di dân, HO v.v…) th́ sao?!... Nơi xứ lạ quê người, lần đầu tiên trong đời
họ phải đối diện với một xă hội có nền văn hóa vô cùng xa lạ
với văn hóa Việt Nam.
Trở ngại chính của họ là ngôn ngữ bất đồng và mọi việc họ
đều phải bắt đầu trở lại từ đầu bằng con số KHÔNG.
Họ không c̣n thuần túy là một nội tướng ở nhà trông nom gia đ́nh, day dỗ
con cái như ở Việt Nam nữa, mà bắt buộc họ phải hội nhập với
cuộc sống của người bản xứ, phải học ngôn ngữ bản xứ,
phải kiếm việc làm giống như phụ nữ bản xứ v.v… Tóm lại,
ngoài nhiệm vụ là một nội tướng trong gia đ́nh, họ c̣n có bổn phận
phải chung vai gánh vác mọi việc ngoài xă hội với chồng,
làm đủ mọi ngành nghề để kiếm tiền, để sinh tồn, để
nuôi con cái ăn hoc thành tài và xây dựng cơ ngơi nơi xứ người từ hai bàn
tay trắng. Không thiếu những cặp vợ chồng đến Mỹ sau một thời
gian ngắn th́ đă phải chia tay; nhưng đại đa số những nàng dâu Đồng
Tiến đă giữ được ḷng chung thủy. Sức chịu đựng và sự
cố gắng vượt bực của họ để hội nhập với xă hội
mới, xây dựng gia đ́nh trên nền tảng đạo đức và luân lư ViệtNam.
Thật đáng khen thay!
Bởi ḷng chung thủy, đạo đức và tư cách của những nàng dâu Đồng
Tiến như đă nói trên, nên trong những lần đại hội truyền thống hằng
năm của Hội Ái Hữu Cựu Sĩ Quan Khóa 11 Đồng Tiến/LTVKTĐ quư chị nàng dâu
Đồng Tiến được ban tổ chức đại hội vinh danh như là một
trong những mục đích chính trong kỳ đại hội. Sự vinh danh dù chỉ với
những lời ca tụng, tượng trưng một tấm plaque, một ṿng hoa, một
cánh hồng v.v.… hay một nụ hôn của người phối ngẫu trên sân khấu
đại hội không ngoài mục đích tôn vinh, tán dương ḷng chung thủy và công đức
của quư chị đối với chồng với con và cũng để nêu tấm gương
sáng chói cho thế hệ hậu duệ trong đại gia đ́nh Đồng Tiến noi theo.
Do đó, người viết thấy cần phải xác định là “nàng
dâu Đồng Tiến” gắn liền với “ḷng chung thủy”. Nều ai đó…chưa chứng nghiệm
được ḷng chung thủy của ḿnh qua thời gian dài hàng chục, chục năm trời
với Đồng Tiến và các con cái của họ, thời chưa phải là nàng dâu Đồng
Tiến. V́ thế, người viết muốn đem chính bản thân ḿnh làm chứng nghiệm
đối với quí chị nàng dâu Đồng Tiến. Giă dụ như bây giờ người
viết có chung sống chính thức hay bán chính thức với một người đàn bà
nào đó… (với điều kiện không được dính dáng ǵ trong đại gia
đ́nh Đồng Tiến), cốt để chia sẻ những buồn vui trong cuộc sống
ở cuối nẻo đường thiên lư trần gian nầy, và người đàn bà nầy
nếu có đến tham dự sinh hoạt hay đại hội Đồng Tiến th́ cũng
chỉ được xem như là bạn gái của người viết hay là một thân hữu
của đại gia đ́nh Đồng Tiến, mà không hề có tư cách là một nàng dâu Đồng
Tiến.
Nhân đây, người viết cũng xin trân trọng vinh danh quư bạn Đồng Tiến
đă bị mồ côi vợ hàng mấy chục năm trời như : ĐT Lê Khải Hải,
ĐT Phan Quang Thương, Đ T Nguyễn Hữu Toại v.v…vẫn một ḷng thủy chung
thay vợ bảo bọc, nuôi dạy các con ăn học thành nhân, thật là điều rất
hiếm trong cơi đời này; cũng như những chị quả phụ
nàng dâu Đồng Tiến mà chồng đă hy sinh trong cuộc chiến hay những năm tháng
sau nầy vẫn một ḷng thủy chung thờ chồng nuôi con ăn học thành nhân như
quư chị quả phụ Lữ Tây Tựu, Ngô Tùng Lam v. v … th́ thật vô cùng xứng đáng
để cho chúng ta tôn vinh và ca ngợi vậy!
* *
*
Cuối cùng, dù ở trong hoàn cảnh nào đi nữa, đă có những cuộc hội
ngộ với những đoạn kết vô cùng tốt đẹp như trong truyện cổ
tích do ḷng chung thủy, th́ cũng không thiếu những kết cuộc đầy nước
mắt, chua cay và thù hận đến từ sự phản bội.
Những năm tháng gần đây, ḷng chung thủy lại được nhắc đến
khi có những cặp vợ chồng được kết hợp bởi t́nh yêu và hôn nhân
đă được ba bốn chục năm rồi, nhưng chỉ sau một, hai chuyến
về thăm Việt Nam của người đàn ông th́ mọi chuyện đă trở thành
bi kịch. Đă có không ít cuộc chia tay xảy ra của những cặp vợ chồng đă
chung sống với nhau 3, 4 chục năm trời, và cũng
không thiếu những cuộc chia tay của những cặp vợ chồng trẻ mới
cưới nhau có vài ba tháng hay một năm. Sự xét đoán hay phê phán ai đúng, ai sai ở
đây không phải là vấn đề chính nữa, mà chỉ c̣n lại cái ḷng chung thủy
của con người mà thôi.
Để kết thúc bài viết nây, người viết xin trân trọng tạ ơn đời,
tạ ơn người, tạ ơn tất cả quư chị nàng dâu Đồng Tiến và luôn
luôn ngưỡng mộ ḷng chung thủy của bất cứ ai trong cuộc sống b́nh thường
và hy vọng trong đại gia đ́nh Đồng Tiến chúng ta luôn luôn giữ được
ḷng chung thủy. Mong lắm thay!
Mùa
Thanksgiving 2007 
|
 |
|