Make your own free website on Tripod.com

doichienbinh.jpg

CAU CHUYEN O. CUU HOI TNCT.
DANH NGON - LOI HAY Y DEP
TIM HIEU QUOC CA - QUOC KY
DOI DIEU VE TAP SAN DONG TIEN
CHAO MUNG WEB DIEN DAN DT
CHUYEN TINH DONG TIEN
DAI HOI 18 - 2009 - SLIDESHOW
SLIDE SHOW GIA DINH DONG TIEN
GIA DINH DONG TIEN TX
TRANG NHAC DONG TIEN
TRANG NHAC DONG TIEN
TRANG NHAC GIANG SINH
LINKS : NHO SAIGON
DIEN DAN AI HUU NINH THUAN
MINH CHAU SOI BIEN
Những bài được đăng trên Diễn Đàn Đông Tiến  gồm có :
- .
QUAN ĐIỂM

pqm1.jpg

Những Viên Gạch Lót Đường

 

Nhân ngày giỗ cố Hội Trưởng Tống Văn Khánh (8-8-04 tại chùa Diệu Pháp), người viết xin có đôi ḍng để tưởng nhớ anh cố Hội Trưởng và anh linh các Đồng Tiến Trần Xuân Chính, Trần Văn Lương, Đoàn Văn Vui, Nguyễn Đ́nh Nại, Việt Văn Trực v.v… đă làm những viên gạch lót đường cho Hội Ái Hữu khóa 11 Đồng Tiến được thăng hoa. Nguyện cầu xin anh linh các bạn được yên nghỉ nơi cơi Vĩnh Hằng luôn luôn pḥ hộ cho Hội Ái Hữu khóa 11 Đồng Tiến ngày càng gắn bó, thương yêu, đoàn kết và phát triển thêm hơn nữa.

Đồng Tiến Phan Quang Mười

 

Thưa các bạn Đồng Tiến thân kính,

 

Hội Ái Hữu cựu SVSQ khóa 11 Đồng Tiến/LTVK Thủ Đức có được ngày hôm nay là do chính bản thân các bạn Đồng Tiến khắp nơi đă đóng góp không biết bao nhiêu công sức của ḿnh vào việc xây dựng, củng cố và phát triển cho Hội thăng tiến.

 

Người viết muốn ghi lại một vài nét chính mà Hội Ái hữu Đồng Tiến được h́nh thành vào đầu thập niên 1970 tại Việt Nam và vào cuối năm 1992 tại Hoa Kỳ; đồng thời cũng để ghi ơn những bạn Đồng Tiến đă hy sinh làm những viên gạch lót đường cho Hội chúng ta h́nh thành và phát triển đến ngày nay.

 

Giai đọan đầu thập niên 1970 tại Việt Nay.

 Khóa 11 Đồng Tiến ra trường ngày 22/12/1961, được phân phối đi phục vụ khắp 4 vùng Chiến Thuật gồm đầy đủ các quân binh chủng như: Không Quân, Hải Quân, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Đông Quân, Nhảy Dù, Lực Lượng Đặc Biệt, Biệt Đông Quân, Bộ Binh, Thiết Giáp, Pháo Binh, Công Binh, Truyền Tin, Quân Nhu, Quân Cụ, Quân Báo, Quân Vận, Hành Chánh Quân Y, Hành Chánh Tài Chánh v.v…  V́ thế nơi nào có QLVNCH đồn trú th́ nơi đó có sự hiện diện của sĩ quan Đồng Tiến. Ngay cả Thủ Đô SàiG̣n, từ các Bộ, Nha Sở Trung Ương, Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Cục và các Cục Tiếp Vận cũng đều có sự góp mặt của các sĩ quan khóa 11 Đồng Tiến.   

      

Các sĩ quan Đồng Tiến đă hy sinh trong cuộc chiến từ ngày ra trường cho đến cuối thập niên 1970 không phải là ít; nhưng các sĩ quan Đồng Tiến phục vụ tại Thủ Đô Sàig̣n, Gia Định chỉ nghe và đọc được trên radio và báo chí mà chưa bao giờ nh́n thấy tận mắt tại mặt trận và trên màn ảnh TV  như trường hợp Đồng Tiến Vũ Mạnh Hùng ĐĐT/TQLC đă nằm xuống trong cuộc truy kích Việt Cộng tại vùng ven biên cầu B́nh Lợi, trong chiến cuộc Tết Mậu Thân năm 1968. Cái chết của Đồng Tiến Vũ Mạnh Hùng  ngay tại mặt trận Thủ Đô, đă gây một cảm xúc sâu sắc đặc biệt cho những sĩ quan Đồng Tiến hiện đang phục vụ tại Thủ Đô Sàig̣n lúc bâư giờ.

Từ cảm xúc đó, vào đầu năm 1969, trong một buổi họp tại hội trường Bộ Quốc Pḥng 63 Gia Long, để duyệt xét dự luật quy chế Đoàn Nữ Quân Nhân/QLVNCH, trước khi chuyển sang Quốc Hội; Đồng Tiến Trần XuânChính lúc bây giờ là Trưởng ban Pháp chế Pḥng I/TTM và người viết là Trưởng ban Quy chế Tổng Nha TCTTQP/ Bộ Quốc Pḥng là 2 sĩ quan Đồng Tiến, và cũng là hai nhân vật then chốt tŕnh bày quan điểm của Bộ Tổng Tham Mưu và Bộ Quốc Pḥng về dự luật nói trên trước hội nghị.

Trong lúc nghĩ giăi lao, CHÍNH có bàn chuyện với người viết về cái chết của Đồng Tiến Vũ Mạnh Hùng, mà anh em Đồng Tiến đang phục vụ tại Thủ Đô chưa tập hợp lại được, để làm một nghĩa cử đồng môn đúng ư nghĩa, đối với bạn ta đă hy sinh tại Thủ Đô nầy, thật là điều đáng tiếc! Trong lúc người viết và CHÍNH đang tṛ chuyện, th́ t́nh cờ chúng tôi gặp một huynh trưởng khóa 1 Thủ Đức Nam Định (gốc Hành Chánh Tài Chánh được biệt phái sang Phủ Thủ Tướng) tạt ngang qua pḥng hội. Sau cái bắt tay chào thăm hỏi, ông ta cho biết là Thứ Sáu tuần sau khóa 1 Thủ Đức của ông đă được Bộ TTM cho phép tổ chức buổi họp mặt toàn khóa tại câu lạc bộ Huỳnh Hữu Bạt trong phi trường Tân Sơn Nhất, nếu như hai chúng tôi muốn tham dự th́ điện thoại cho ông ta để ông ta gởi giấy mời.

Sau đó CHÍNH nói với người viết là sự việc đúng như vậy, Pḥng 1?TTM vừa mới phổ biến Bưu Điệp chỉ thị cho các đơn vị cấp phép đặc biệt cho các sĩ quan khóa 1 Thủ Đức, được phép về Sàig̣n tham dự buổi họp mặt toàn khóa mà ông ấy vừa nói. Ngoài ra, Khóa 1 Thủ Đức cũng đang nọp hồ sơ xin Bộ Nội Vụ ban hành Nghị định cho phép thành lập Hội Ái Hữu hoạt động chính thức theo tinh thần Đạo Dụ số 10. CHÍNH c̣n nói là khóa 1 Thủ Đức đă có nhiều cấp Đạị tá và Tướng mà họ c̣n ở vào cương vị lảnh đạo quốc gia và quân đội, nên họ muốn làm ǵ mà chẳng được.

Người viết có bàn với CHÍNH là khóa 11 của ḿnh (mặc dù cấp bậc nhỏ), nhưng phục vụ ở Thủ Đô cũng khá nhiều, nhất là tại các Phủ, Bộ, Nha, Sở Trung Ương, Bộ TTM, các Tổng Cục, Cục Tiếp Vận, và các đơn vị quanh vùng Gia Định Chợ Lớn;  mỗi nơi chúng ta có ít nhất là một người. Vậy tại sao chúng ta không kêu gọi các bạn sĩ quan Đồng Tiến tại các cơ quan, đơn vi nói trên, nên kết hợp lại để làm một công việc có ư nghĩa; tương tự như khóa 1 Thủ Đức Nam Định đang làm và sẽ làm. Người viết thiểt nghĩ là khóa 1 làm được th́ khóa 11 chúng ta cũng có thể làm được thôi; v́ Bộ Nội Vụ không thể nào ban hành Nghị Định cho khóa 1, mà từ chối không cho khóa 11 được cả. CHÍNH rất tán đồng và hứa sẽ cố gắng làm viên gạch nối với các bạn khác để thực hiện việc nầy.

Thế là cuối năm đó, buổi họp mặt đầu tiên của khóa 11 Đồng Tiến được tổ chức vào ngày 22/12/1969, để kỷ niệm 8 năm ngày măn khóa, tại nhà hàng Động Phát, Chợ Cũ.  Trong buổi họp mặt đầu tiên nầy, có khoảng trên 20 bạn phục vụ ở trung ương và các vùng phụ cận, mà người viết không thể nhớ tên hết được; chỉ nhớ mang máng một số bạn sau đây: Trần Xuân Chính, Ngô Thành Đặng, Nguyễn Văn Nết, Hoàng Hữu Đôn, Lê Khải Hải, Đoàn Văn Vui, Trần Văn Lương, Nguyễn Văn Măng, Nguyễn Hữu Liễu, Nhan Hữu Hậu, Trần Ngọc Giao, Phạm Thanh Trung, Phạm Văn Sự, Trần Thiện Hiệp, Cao Sanh Nhờ v.v…

Những năm kế tiếp, năm nào cũng đến ngày 22 tháng 12, khóa 11  Đồng Tiến đều có tổ chức buổi họp mặt toàn khóa, và Đồng Tiến Ngô Thành Đặng là người rất có công đă đứng đơn xin phép Pḥng 1/ Bộ TTM ban hành Bưu Điệp chỉ thị các đơn vị, cấp phép đặc biệt cho các sĩ quan Đồng Tiến về Sàig̣n  tham dự buổi họp mặt toàn khóa vào ngày 22 tháng 12 hằng năm  Đồng thời Đồng Tiến Đặng cũng đứng đơn xin Bộ TTM thành lập Hội Ái Hữu tương tự như khóa 1 Thủ Đức. Hồ sơ được chuyển lên Bộ Quốc Pḥng cứu xét, và sau đó chuyển sang Bộ Nội Vụ để ban hành Ngị Định thành lập Hội Ái Hữu Cựu SVSQ/TB Khóa 11 Đồng Tiến/LTVKTĐ. Việc theo dơi và bổ túc hồ sơ cho hợp lệ mà Bộ Nội Vụ đ̣i hỏi như: Nơi đặt trụ sở, bản hiệu, điện thoại, đại diện các vùng, biên bản điều tra của Quân Cảnh Tư Pháp v.v… đều được Đồng Tiến Đoàn Văn Vui đă giăi ngủ và đang hành nghề thầu khoán (có cô em gái là Đoàn Thị Mừng là công chức đang làm việc tại Bộ Nội Vụ), và Đồng Tiến Trần Văn Lương (Chủ Sự Pḥng Vật Liệu/Bộ Xây Dựng Nông Thôn) lo giúp, nên hồ sơ được xúc tiến rất nhanh chóng so với các khóa đàn anh khác. Đến ngày 22 tháng 12 năm 1972, Hội Ái Hữu cựu SVSQ khóa 11 Đồng Tiến/LTVKTĐ được chính thức thành lập, và buổi tổ chức họp mặt toàn khóa tại câu lạc bộ/Bộ Tư Lệnh Hải Quân dưới quyền chủ tọa của Thiếu Tướng Lê Văn Nghiêm cựu chỉ huy trưởng Liên Trường Vỏ Khoa Thủ Đức.  Và kể từ ngày này, Hội Ái Hữu khóa 11 Đồng Tiến được phép hoạt động khắp 4 Vùng Chiến Thuật do NghịĐịng của Bộ Nội Vụ. Rất tiếc là toàn bộ hồ sơ thành lập Hội do người viết là Tổng Thư Kư của Hội lưu giữ tại văn pḥng Thâu Chi Viên/Bộ QuốcPḥng; nhưng đành chịu không nhớ nỗi số và ngày của Nghị Định, mà chỉ c̣n nhớ chắc chắn là năm 1972 Hội chúng ta đă có Nghị Định chính thức hoạt động, và Nghị Định nầy đă được đăng vào Công Báo Việt Nam Cộng Ḥa và Quốc Pḥng Quân Lực Công Báo năm 1972. Nếu như muốn truy t́m Nghị Định nầy, th́ cũng có thể vào các thư viện lớn của Hoa Kỳ xem các Công BáoVNCH năm 1972 th́ sẽ thấy rỏ.

Giai đoạn 2 tại Nam California Hoa Kỳ.

Trước khi sang định cư tại Hoa Kỳ, người viết được một số bạn Đồng Tiến tại quê nhà, nhất là Đồng Tiến Phạm Văn Sự, Nguyễn Văn Nết, Nguyễn Văn Măng, Lê Văn Vàng (là các thành viên trong Ban Chấp Hành cũ được bầu ra trong ngày đại hội ngày 22/12/1974 tại Hội Quán Công Binh) ủy thác là ra hải ngoại được tự do rồi, th́ nên nhớ cố gắng kêu gọi anh em Đồng Tiến tái lập lại Hội Ái hữu Đồng Tiến tại hải ngoại, ngơ hầu có phương tiện sinh hoạt, nhằm giúp đở lẫn nhau giữa các bạn Đồng Tiến ở nơi xứ tạm dung và các bạn c̣n kẹt lại nơi quê nhà.  Đồng Tiến Sự nói với người viết là anh đă có liên lạc thư với Việt Văn Trực và cho biết ngày giờ gia đ́nh người viết đến Mỹ rồi; thế nào Trực cũng đến thăm và sẽ đưa người viết đến gặp Nguyễn Hậu, tức là Nguyễn Đ́nh Nại (Quân Cụ) hiện là Hội Trưởng Cựu Tù Nhân Chính Trị tại Hoa Kỳ, để nhờ Hậu giúp đở việc tái lập Hội tại hải ngoại. Lúc bây giờ người viết có nói với SỰ và NẾT là đừng nên kỳ vọng nơi người viết, bởi v́ khi đến Mỹ chưa biết việc ǵ sẽ xảy ra cho gia đ́nh người viết nữa, th́ làm sao nói trước việc kết hợp khóa đuợc. Hơn nữa, người viết tin tưởng rằng các bạn cũng sẽ lần lượt ra đi như người viết trong nay mai, và khi sang đến Mỹ rồi th́ chúng ta mới biết được việc ǵ ḿnh có thể làm được, c̣n bây giờ nói th́ quá sớm.

May mắn thay! ngày đầu tiên đến Mỹ, người viết rất hân hạnh được các bạn Đồng Tiến Việt Văn Trực, Trần Văn Nở, Nguyễn Văn Nên, Đổ Mạnh Bách và Dương Hồng Biểu đến thăm. Đây là niềm vui sướng và an ủi vô cùng quí giá cho gia đ́nh người viết mới đặt chân đến xứ Người. Ngày hôm sau, vợ chồng Trực đưa gia đ́nh người viết đi ăn sáng, sau đó Trực đưa người viết đến văn pḥng Hội Cựu Tù Nhân ChínhTrị để gặp Đồng Tiến Nguyễn Đ́nh Nại (lúc bây giờ đổi tên là Nguyễn Hậu). Được gặp lại người viết Nại mừng vô cùng (v́ trước năm 1975 khi Nại c̣n phục vụ tại Lục Quân Công Xưởng, hằng tháng anh Nại thường đến pḥng Thâu Chi Viên gặp người viết để xin được nộp nhiều lần trong tổng số tiền trên lệnh thâu ngân mà Nại bị quy trách phải hoàn trả lại cho Chính Phủ). Sau khi tay bắt mặt mừng, Nại liền mời người viết và Trực sang tiệm Long Phụng bên cạnh văn pḥng để uống cà phê và hàn huyên tâm sự. Nại nói chuyện liên miên bất tận, kể nào là chuyện anh vượt biển đến Mỹ như thế nào, đấu tranh tuyệt thực ở Washington DC, liên lạc với bà Khúc Minh Thơ ra làm sao, và làm thế nào để có được chương tŕnh giúp đở anh em HO mới sang như hiện nay v.v… Anh Nại c̣n cho người viết biết là anh c̣n có một danh sách rất nhiều bạn Đồng Tiến sang Mỹ năm 1975, cũng như vượt biển trong thập niên 1980, và vừa mới sang Mỹ theo diện đoàn tụ và HO, hiện đang cư ngụ tại Quận Cam như Trần Thọ Long, Phạm Bá Mạo, Nguyễn Thế                                                      Hà, Lê Khải Hải, Nguyễn Tứ Hải, Trần Duy Ḥe, Nguyễn Chấn, Hoàng Liên, Lă Văn Ngọc, Nguyễn Văn Nên, Diệp Phiêu, Việt Văn Trực, Dương Hồng Biểu, Đổ Mạnh Bách, Trần Văn Nở v.v…

Những lần gặp lại Nại sau đó, người viết và anh Nguyễn Văn Nên đều nhận thấy anh Nại hiện đang là Hội Trưởng Hội Cụu TNCT và có sẵn cơ ngơi để anh em ĐT dễ dàng sinh hoạt, mới đề nghị anh Nại nên đứng ra kêu gọi anh em Đồng Tiến kết hợp lại, để xin tái lập lại Hội Ái Hữu Đồng Tiến đă có trước năm 1975. Anh Nại rất tán đồng và nói rằng: việc kêu gọi các bạn Đồng Tiến và việc lo các thủ tục xin tái lập Hội th́ anh xin sẵn sàng; nhưng anh không thể nào cùng một lúc giữ hai chức vụ Hội Trưởng được. Do đó, anh Nại xin được đứng ngoài Ban Chấp Hành Hội để tích cực hổ trợ; đồng thời đề nghị anh Nên đứng ra mời gọi anh em đến tại trụ sở Hội Cựu TNCT của anh Nại, hoặc tại nhà riêng của anh Nên, tùy theo thời gian thuận tiện, để chúng ta cùng bàn thảo việc tổ chức và quyết định xin tái lập Hội.

Sau đó liên lạc được với các bạn Trần Quang Huế, Nguyễn Gia Lễ, Lưu Công Hảo ở Bắc Cali; anh Nguyễn Phan Tựu, Cao Sanh Nhờ ở Colorado; anh Trần Thiện Hiệp, Nhan Hữu Hậu ở Seattle WA, anh Nguyễn Hữu Liễu, Bùi Văn Lớn và Nguyễn Văn Quang ở Oregon; Trần Văn Thông và Trần Quang Thế ở Texas là những bạn rất nhiệt t́nh tham gia, cổ vũ việc tái lập Hội. Sau nhiều lần họp tại nhà anh NguyễnVăn Nên, mới tiến đến quyết định việc tổ chức ngày họp mặt đầu tiên là ngày Chủ Nhật 18/12/1992 (thay v́ đúng là ngày 22/12 như truyền thống trước năm 1975) tại trụ sở của Hội Cao Niên Á Mỹ trong khu chợ Little Sàig̣n. Mọi việc phổ biến thư mời, đăng báo, mời gọi trên đài phát thanh hoặc thủ tục giấy tờ xin tái lập Hội anh Nại t́nh nguyện đảm nhiệm. Đây là thời điểm đầu tiên đánh dấu việc tái lập Hội Ái Hữu Khóa 11 Đồng Tiến tại Hoa Kỳ, mà phải thành thật công nhận là nhờ công lao của hai anh Nại và Nên nhiều nhất, trong buổi ban đầu rất nhiều khó khăn cho việc kết hợp các bạn Đồng Tiến lại với nhau.

Những năm sau đó, anh Nại là người luôn sát cánh với anh em Nam Cali để soạn thảo nội qui và bản dịch tiếng Anh, cốt để gởi lên Sacramento để xin hợp thức hóa Hội giống như hội Cựu TNCT của anh Nại.  Nhưng rất tiếc, Trời không chiều ḷng người, khi chưa hoàn tất công việc th́ anh Nại lâm trọng bệnh rồi mệnh chung. Người viết c̣n nhớ, khi vào thăm anh tại bệnh viện UCI, anh nói với người viết rằng, về văn pḥng của anh nói với anh Chức kéo ngăn hộc bàn cuối cùng bên phải để lấy các bản nội qui cả Anh lẫn Việt để giao cho anh Nên, tiếp tục làm thủ tục xin hợp thức hóa cho Hội chúng ta. Tuy nhiên, lúc bây giờ anh Nên phải lo điều hành một shop may mà anh mới vừa xây dựng, nên không thể nào có th́ giờ rảnh rỗi để lo công việc cho Hội cả. C̣n về phần người viết phải chăm lo cho bệnh t́nh của bà xă vừa mới giăi phẫu bệnh cancer bao tử, nên cũng không c̣n đủ tinh thần lo cho những công việc của Hội. Rất may lúc bây giờ có anh Huế và anh Lễ ở San José rất có ḷng, sẳn sàng tiếp sức chu toàn mọi công việc của Hội c̣n đang dang dỡ.

Do đó, cuối năm 1995 đại hội lần thứ 4 được tổ chức lần đầu tiên tại San Jose. Người viết là người tiến cử anh Huế làm Hội trưởng, và cũng là người đại diện anh hội trưởng Nguyễn Văn Nên bàn giao chức vụ hội trưởng cho anh Trần Quang Huế, gồm các bản dự thảo nội qui của Hội do anh Nại đă soạn thảo, cùng với số tiền mặt của thủ quỷ Hoàng Văn Thạch nhờ chuyển giao giùm. Việc làm quan trọng nhất trong nhiệm kỳ đầu của anh Huế là phát hành Bản Tin, kết hợp các bạn ĐT xa gần lại với nhau, và thiết lập một danh sách toàn khóa, đặt nền tảng căn bản cho Hội áp dụng và tiếp tục phát triễn về sau.  Đến đại hội 6 tại Nam Cali anh Huế được tín nhiệm lưu nhiệm thêm một nhiệm kỳ 2 năm nữa, và đến đại hội 8 tại San Jose, chính người viết đề nghị trước đại hội để lưu nhiệm anh Huế thêm một năm nữa, nhằm mục đích  để chuẩn bị nhân sự cho đại hội 9 tại Nam Cali sẽ bầu lại Hội trưởng thay thế anh Huế. V́ theo quan niệm của người viết, đă cùng một khóa th́ bất cứ anh nào trong khóa cũng đều có thể làm Hội trưởng được cả, không nhất thiết phải là anh Huế làm Hội trưởng muôn năm mới được. Hơn nữa, theo luật phát triển tự nhiên th́ người đảm nhiệm chức vụ sau, rút kinh nghiệm thực tiển;  thực hành luôn tốt đẹp và thành công hơn những người đi trước. Vấn đề quan trọng là những người đi trước có thực tâm truyền lại các kinh nghiệm,  dọn đường cho những người kế thừa và hết ḷng cổ vũ tinh thần cho những người đi sau nhận lảnh trách nhiệm hay không, mới là chuyện đáng để cho chúng ta bàn thảo mà thôi. Ngoài ra, anh Huế đă hy sinh phục vụ cho Hội một thời gian khá dài 5 năm thay v́ 2,3 năm như nhiệm kỳ đầu của anh Nên. Phải thành thật ghi nhận công lao to lớn của anh Huế đă đóng góp cho tập thể Đồng Tiến từ trước đến nay, mà hiện nay vẫn c̣n đang tiếp tục.

Đại hội lần thứ 9 năm 2000 tại Nam Cali, anh Tống Văn Khánh được tín nhiệm giữ chức vụ hội trưởng thay anh Huế. Anh Khánh lúc bây giờ là Chi hội trưởng Nam Cali được đại hội 4 bầu ra tại San Jose từ năm 1995, và là người tổ chức 3 kỳ đại hội tại Nam Cali rất thành công là: đại hội 5 tại nhà hàng ÁnhHồng, đại hội 6 tại nhà hàng Kim Hải và đại hội 9 tại nhà hàng Paracel.  Nhiệm kỳ hội trưởng của anh Khánh được ấn định lại là 3 năm thay v́ 2 năm như trước; nhưng rất tiếc chưa đầy 2 năm th́ anh Khánh đă lâm trọng bệnh rồi mệnh chung. Anh Khánh đă để lại gia tài cho Hội rất đáng giá mà không một thành viên Đồng Tiến nào có thể quên công lao của anh được:

-Thứ nhất.- Anh Khánh đă quyết định cải tiến Bản Tin trở thành “Tập San Đồng Tiến” kể từ số 25 sau ngày đại hội 9, và phát hành đều đặng vào ngày đầu mỗi tam cá nguyệt, nhưng anh cũng đă rất tiết kiệm và hạn chế tối đa số chi phí cho Tập San từ $500 đến tối đa $1,000.00 mà thôi (điều nầy anh Ḥe là người biết rỏ nội vụ hơn ai hết). Phải thành thật mà nói người có công nhiều nhất trong việc cải tiến Tập San từ số 25 đến số 35 là Đồng Tiến Trần Duy Ḥe, Nguyễn Văn Vỹ và Nguyễn Ngọc Trầm.

-Thứ hai.- Anh Khánh nhận thấy số tiền tồn quỷ của hội lên đến 5,6 ngàn dollars mà anh Huế sẽ bàn giao cho tân ban chấp hành trong những tháng sắp đến, anh không biết phải lưu giữ làm sao cho hợp pháp; mà nếu giao cho bất cứ cá nhân nào anh cũng sợ là không thể nào tránh được bất trắc có thể xảy ra. Trước vấn đề nan giăi anh Khánh có tham khảo ư kiến với anh Ḥe và người viết, trước khi anh quyết định xin tiểu bang California hợp thức hóa Hội, trở thành một “hội bất vụ lợi, non profit”, để số tiền của Hội được bảo đảm kư thác vào trương mục một ngân hàng hợp pháp; và nếu muốn rút tiền ra cũng phải có ít nhất hai người kư tên mới rút ra được. Đây là việc làm rất quan trọng, mà anh Nại đă nghĩ ngay từ cuộc họp đại hội đầu tiên năm 1992, nhưng chưa làm được th́ anh đă mệnh chung, măi cho đến 9 năm sau 2001 anh Khánh mới nối tiếp để hoàn tất.

- Thứ ba.- Anh Khánh đă quyết định nền móng cho hội thực hiện trong việc “thăm viếng, phân ưu và chung sự” cho gia đ́nh Đồng Tiến (trích bài “Hướng Đi” của anh Khánh đăng trong Tập San Đồng Tiến số 28 ngày 1-10-2001) như sau:

a)- Gia đ́nh Đồng Tiến có bệnh tật hay gặp hoạn nạn: Hội, Chi Hội đến thăm viếng, an ủi tinh thần, tùy theo bệnh trạng mua quà ủy lạo v.v…

b)- Tứ thân phụ mẫu từ trần: đến thăm viếng với ṿng hoa phân ưu và đăng báo chia buồn.

c)- Trường hợp bản thân Đồng Tiến từ trần: Hội nên trích quỷ một số tiền tượng trưng $300.00 (bỏ vào một phong b́) để phúng điếu, một ṿng hoa phân ưu, một lá cờ VNCH để phũ lên quan tài, trước khi hạ huyệt đọc điếu văn, và đăng báo chia buồn. Tùy theo hoàn cảnh tại mỗi tiểu bang, các chi hội ứng trước số tiền, cố gắng thực hiện đầy đủ nghi thức đối với gia đ́nh người quá cố. Hội sẽ bồi hoàn các chi phi liên hệ cho Chi hội sau.

Ngoài ra, theo dự tính của anh Khánh tiết lộ cho người viết biết, sau khi anh dự đại hội 10 tại Texas về là anh định thiết lập một quỷ chung sự cho bản thân Đồng Tiến mỗi khi mệnh chung. Ban đầu, mỗi hội viên gia nhập quỷ chung sự ứng trước mỗi người $50.00 dollars. Nếu như có 100 hội viên gia nhập th́ quỷ hội có sẳn $5,000.00 cho gia đ́nh người quá cố, để giúp cho tang gia chu toàn việc chung sự. Đồng thời Hội yêu cầu các hội viên đóng góp mỗi người $50 để bù đắp lại quỷ ứng trước như lúc ban đầu, để Hội luôn có sẳn một số tiền để trợ giúp gia đ́nh Đồng Tiến khi mệnh chung. V́ anh Khánh lư luận là hiện nay chúng ta mỗi khi mừng đám cưới cũng phải ít nhất là $50, trong khi đó chẳng may bạn ta nằm xuống, chúng ta lại không đi phúng điếu được $50 hay sao? Đây là cách tương trợ thiết thực nhất Hội cần phải thực hiện, v́ tang gia không thể từ khước số tiền nói trên với lư do là sợ con cháu phải mang nợ người phúng điếu; mà trái lại đây là quyền lợi của người quá cố được hưởng, mà Hội có nhiệm vụ phải thực hiện. Hiện thời các hội đoàn ở Nam Cali cũng đă thực hiện quỷ chung sự nầy từ lâu rồi, như hội Việt Nam Tương Tế, hội Tây Sơn B́nh Định v.v… Điều đáng tiếc là anh Khánh đă giă từ chúng ta quá sớm, nên những dự tính của anh muốn thực hiện tốt đẹp cho hội trở thành dang dỡ. Anh ra đi là một sự mất mát quá lớn đối với đại gia đ́nh Đồng Tiến. Xin thành kính tri ân tấm ḷng cao đẹp v́ tập thể Đồng Tiến của anh cố Hộ Trưởng Tống Văn Khánh.

Nhân mùa Vu Lan Giáp Thân 2004, xin đốt nén hương ḷng để tưởng nhớ anh linh các bạn Đồng Tiến đă giă từ gia đ́nh Đồng Tiến trên đất nước Hoa Kỳ để về miền Miên Viễn trong hơn một thập niên qua (kể từ 1993 đến nay), đó là các Đồng Tiến: Nguyễn hữu Phước, Đàm Duy Tâm, Trần Chung Dung, Nguyễn Đ́nh Nại, Phạm Xuân Nghĩa, Bùi Ngọc Ánh, Trần Văn Nở, Hà Mộng Hùng, Nguyễn Văn Tài, Phan Bá Ṭng, Tống Văn Khánh và Viết Văn Trực tại Nam California; Mai Văn Kính tại Bắc California; Đoàn Đức Minh và Trần Công Minh tại Texas; Nguyễn Quốc Lâm tại Washington State; Lê Phát Cang tại Georgia; Lê Hữu Minh tại Virginia; và rất có thể c̣n có những bạn khác nữa, đă ra đi mà gia đ́nh Đồng Tiến chưa được biết đến v́ thiếu thông tin liên lạc.

Những ḍng cảm nghĩ trên đây chỉ nhằm mục đích nói lên cách cư xử tiêu biểu của một con người, và cũng là một thành viên Đồng Tiến, sống có t́nh, có nghĩa, có trước, có sau, và những cảm nghĩ nầy cũng rất có thể chỉ là chủ quan của người viết mà thôi. Nếu các bạn Đồng Tiến nào xét thấy có điều ǵ không đúng, hoặc sai trái hay phật ư ḿnh, th́ cũng xin niệm t́nh Đồng Tiến mà lượng thứ cho. V́ người viết tuổi đời cũng đă khá cao mà trí nhớ lại suy kém, nên thành thật xin lỗi vậy!

Cuối cùng người viết xin cám ơn các bạn Đồng Tiến xa gần đă bỏ th́ giờ để đọc những ḍng cảm nghĩ nầy./-

SANTA ANA, MÙA VU LAN GIÁP THÂN 2004

Đồng Tiến Phan Quang Mười

VÀI LỜI PHI LỘ

 Thưa quư bạn Đồng Tiến cùng thân hữu và gia đ́nh thân kính.

 

Website Diễn Đàn Đồng Tiến được h́nh thành kể từ 01-01-2008 do Đồng Tiến: -Phan Quang Mười chịu trách nhiệm tổng quát và  Đồng Tiến Nguyễn Nghiêm chịu trách nhiệm về mặt kỷ thuật, với sự cố vấn và yểm trợ của các bạn Đồng Tiến Nguyễn Văn Nên, Trần Duy Ḥe, Hà Kim Danh và Ngô Đ́nh Ḥa tại Nam California.  

 

Ngoài ra c̣n được sự tiếp tay của các bạn Đồng Tiến: Nguyễn Văn Tiên ở Bắc California -Dương Văn Hưng, Vũ Văn An, Lâm Gia Kinh, Ngô Thành Đặng, Phan Huy Hoàng ở Texas;  -Đặng Chí B́nh ở MA; -Vỏ Thái Hưng, Nguyễn Hồng Nhung ở VA;  -Nguyễn Phan Tựu ở CO; -Nguyễn Trí Hoà, Phạm Quang Ngọc, Huỳnh Bá Phụng ở Úc Châu và Tạ Quang Phục ở Pháp Quốc dồng hổ trợ.

 

Website Diễn Đàn Đồng Tiến này không do Hội Ái Hữu Cựu Sĩ Quan Khóa 11/Đồng Tiến chủ trương mà do một nhóm các bạn Đồng Tiến độc lập h́nh thành đẻ cùng nhau chia sẻ tâm t́nh, trao đổi quan điểm, văn hóa, thông tin, nghị luận, t́m ṭi học hỏi những lời hay ư đẹp, những điều mới lạ vừa xảy ra trên internet, chuyển tải những h́nh ảnh sinh hoạt của cá nhân cùng gia đ́nh v.v…

 

Nhóm chủ biên website Diễn Đàn Đồng Tiến sẽ dành cho mỗi bạn Đồng Tiến tham gia vào website này một trang riêng biệt để đưa các h́nh ảnh cá nhân và gia đ́nh cùng những sinh hoạt, quan điểm riêng tư hay phổ quát cần truyền đạt cho mọi người hiểu biết.

Cuối cùng xin các bạn ONLINE vui ḷng đóng góp ư kiến và cho biết những điều cần bổ túc và cải sửa ngơ hầu giúp cho Diễn Đàn Đồng Tiến mỗi ngày một tốt đẹp hơn.

 

Trân Trọng.

 

(Ghi chú : bên dưới cùng , có mục đóng góp ư kiến, xin các bạn theo sự chỉ dẩn diên  vào các ô trống và gởi đi theo dịa chi e-mail đă ghi. 

 

___________

L̉NG CHUNG THỦY

 

Thân tặng quư chị Nàng Dâu Đồng Tiến

thân thương nhất của các Cựu Sĩ Quan

Khóa 11 Đồng Tiến/LTVK Thủ Đức.

Đồng Tiến Phan Quang Mười

 

 

Danh từ “Nàng Dâu Đồng Tiến” được Hội Ái Hữu Cựu Sĩ Quan Khóa 11 Đồng Tiến/LTVKThủ Đức xử dụng để chỉ danh người phối ngẫu của các Cựu Sĩ Quan khóa 11/Đồng Tiến đă kết hôn trước hoặc sau ngày 22-12-1961 (ngày măn khóa) nhưng đến ngày nay (sau 47 năm kể từ ngày ra trường) vẫn một L̉NG CHUNG THỦY với chồng với con.

Nói đến “Nàng Dâu Đồng Tiến”  là phải nói đến “ḷng chung thủy”; mà “ḷng chung thủy” là một cái ǵ lâu dài và phải mất nhiều thời gian mới đạt đến. Muốn đo ḷng chung thủy của các nàng dâu Đồng Tiến đ̣i hỏi phải có một thời gian thật dài, hàng chục, chục năm …, trải qua nhiêu thử thách trong cuộc sống cùng với các biến đổi của cuộc đời. Biến cố ngày 30-4-1975 toàn thể miền Nam Việt Nam trong đó có đại gia đ́nh Đồng Tiến chúng ta như từ trên trời rơi xuống. Tất cả đều chịu chung cảnh nước mất, nhà tan cửa nát. Cha mẹ xa con, vợ xa chồng, anh xa em v.v…, gia đ́nh ly tán. Hầu hết các Đồng Tiến đều bị giam giữ trong các trại tù CS từ 3 năm, 5 năm, 10 năm hay hơn nữa.

Những năm tháng dài tù tội này là thời gian để chứng nghiệm ḷng chung thủy, t́nh yêu sắt son của các nàng dâu Đồng Tiến mà không phải người phụ nữ nào cũng ǵn giữ được; nhất là khi tuổi đời của họ c̣n quá trẻ và sự xa cách khiến cho người ta dễ sanh ḷng phản bội nhau. Giă dụ nếu có, âu cũng là chuyện nhi nữ thường t́nh, các bậc nam nhi cần nên rộng lượng thứ tha cho họ hơn là trách móc. Giă thuyết như mấy bà phụ nữ đi ở tù CS, c̣n các đấng mày râu lại ở nhà nuội con lo gia đ́nh th́ sẽ thấy số lượng mấy ông phản bội mấy bà nhiều gấp bội so vối tỷ lệ mà mấy bà đă phản bội mấy ông trong cuộc đổi đời 1975.

Người đời thường nói: “Đằng sau t́nh yêu và hôn nhân bao giờ cũng thấp thoáng bóng ma của phản bội”. Và cả vợ lẫn chồng đều có thể bị con ma phản bội ŕnh rập tấn công, chiều chuộng, quyến rũ và lung lạc. Nhưng người viết nhận thấy phía đàn ông bao giờ cũng chiếm đa số, h́nh như tinh thần các đấng mày râu chúng ta yếu đuối hơn quư bà chăng?! Thế cho nên giữ được ḷng chung thủy là một điều không phải dễ dàng.

Thú thật trước năm 1975, người viết cũng đă từng có nhiều lần sa vào bóng ma phản bội ấy và súy chút nữa là đă phản bội người bạn đời yêu dấu của ḿnh. Cũng may nhờ ḷng bao dung, sự nhường nhịn và trân quí của người bạn đời mà người viết thức tỉnh, biết dừng lại đúng nơi, đúng lúc. Phải nói thật với ḷng ḿnh là bóng ma ấy có sức quyến rũ, lung lạc, luôn ŕnh rập người viết ở ngoài đời. Nhiều lúc bị bóng ma đó ám ảnh, mỗi khi về nhà, chỉ chờ có một lời to tiếng, một sự giận hờn, oán trách hay gắt gỏng của người bạn đời,  là bóng ma ấy sẽ ập ra cướp đi mất hạnh phúc gia đ́nh của người viết ngay. Nhưng may thay và cũng là điều huyền diệu thay, mỗi khi như thế người viết về đến nhà đối diện với người bạn đời th́ hầu như sự trông chờ (trong lúc bị bóng ma ám ảnh) của người viết đă không xảy ra và tự nhiên bóng ma phản bội ấy bổng dưng biến đâu mất. Điều nầy chứng tỏ người bạn đời đă cố t́nh đè nén, nhường nhịn, và rất bao dung, không muốn tạo ra bất cứ chất mồi nào cho ngọn lửa phản bội của người viết có cơ hội để phát sinh. Nhờ thế mà cuộc hôn nhận của người viết mới kéo dài hơn 53 năm tràn đầy hạnh phúc và chỉ chấm dứt khi người bạn đời nhắm mắt xuôi tay vào ngày 20-10-2005. V́ vậy, người viết trộm nghĩ sự phản bôi nếu có xảy ra, một phần lớn do người phối ngẫu thiếu ḷng bao dung, nhường nhịn và tương kính lẫn nhau.

Hoàn cảnh lịch sử thay đổi sau 30-4-1975, khiến mọi gia đ́nh bị phân tán v́ những người chồng hay người yêu bị tập trung trong trại tù cộng sản. Đó là thời gian mà người viết cho rằng những người vợ trẻ bị thử thách ghê gớm nhất về ḷng chung thủy của ḿnh khi phải đối diện với nỗi lo sợ, hoang mang về tương lai, sự cô đơn về tinh thần, cộng thêm những thiếu hụt về miếng cơm manh áo cho cá nhân ḿnh và đàn con thơ dại. Dĩ nhiên vào thời gian này, những kẻ thắng trận và một số người không phải vào tù CS đă lợi dụng yếu điểm ấy của những người phụ nữ để áp lực, hay mua chuộc họ.

Đứng trước những nghịch cảnh như thế, chúng ta phải công nhận rằng hầu hết những nàng dâu Đồng Tiến ở vào trường hợp đáng thương ấy đă giữ được ḷng chung thủy, cũng bởi t́nh yêu của họ dành cho người bạn đời và những đứa con của họ quá mạnh mẽ và bền vững. Điểm đặc biệt mà người viết muốn ca ngợi về sự chung thủy trong t́nh yêu của những người phụ nữ, tuy chỉ mới là người yêu thôi, không hề có hôn nhân hay con cái ràng buộc với người đàn ông mà họ yêu thương; vậy mà họ vẫn chờ đợi ngày về, ngày đoàn tụ mơ hồ ấy trong một thời gian rất dài không thể nào đoán trước được.

Trong những năm tháng sau ngày chồng bị vào tù CS, những nàng dâu Đồng Tiến phải đối diện với một xả  hội cộng sản đầy gian manh xảo trá. Họ đă phải một ḿnh gánh chịu không biết bao nhiêu nỗi oan khiêng, nghiệt ngă của cuộc đổi đời. Họ không những là một người dâu hiền phải chăm lo cho gia đ́nh bên chồng, mà nghiểm nhiên trở thành người chủ gia đ́nh thay chồng làm bổn phận vừa người cha vừa là người mẹ, phải t́m đủ mọi cách để mưu sinh hầu bảo bọc gia đ́nh, nuôi nấng, day dỗ con cái ăn học nên người, c̣n là thân c̣ lặn lội trên khắp nẽo đường đất nước từ Nam ra Bắc, từ rừng sâu núi thẳm, hang cùng ngỏ hẹp để thăm nuôi chồng trong các trại tù CS. Là những phụ nữ thuộc gia đ́nh vọng gia thế tộc của xă hội miền Nam, bổng dưng trở thành người thứ dân hạng bét của xă hội cộng sản th́ làm sao tránh khỏi buồn đau, khổ cực, tủi hổ… nhưng họ đă hiên ngang đứng thẳng nh́n cuộc đổi đời bằng cặp mắt tự tin sẽ có một ngày mai tươi sáng.

Mặt khác,  những Nàng Dâu Đồng Tiến may mắn thoát được ra nước ngoài sau ngày 30-4-1975, hoặc cho đến cuối thập niên 1990 (bằng mọi phương tiện, mọi phương cách: di tăn, vượt biển, di dân, HO v.v…) th́ sao?!... Nơi xứ lạ quê người, lần đầu tiên trong đời họ phải đối diện với một xă hội có nền văn hóa vô cùng xa lạ với văn hóa Việt Nam. Trở ngại chính của họ là ngôn ngữ bất đồng và mọi việc họ đều phải bắt đầu trở lại từ đầu bằng con số KHÔNG. Họ không c̣n thuần túy là một nội tướng ở nhà trông nom gia đ́nh, day dỗ con cái như ở Việt Nam nữa, mà bắt buộc họ phải hội nhập với cuộc sống của người bản xứ, phải học ngôn ngữ bản xứ, phải kiếm việc làm giống như phụ nữ bản xứ v.v… Tóm lại, ngoài nhiệm vụ là một nội tướng trong gia đ́nh, họ c̣n có bổn phận phải chung vai gánh vác mọi việc ngoài xă hội với chồng,  làm đủ mọi ngành nghề để kiếm tiền, để sinh tồn, để nuôi con cái ăn hoc thành tài và xây dựng cơ ngơi nơi xứ người từ hai bàn tay trắng. Không thiếu những cặp vợ chồng đến Mỹ sau một thời gian ngắn th́ đă phải chia tay; nhưng đại đa số những nàng dâu Đồng Tiến đă giữ được ḷng chung thủy. Sức chịu đựng và sự cố gắng vượt bực của họ để hội nhập với xă hội mới, xây dựng gia đ́nh trên nền tảng đạo đức và luân lư ViệtNam. Thật đáng khen thay!

Bởi ḷng chung thủy, đạo đức và tư cách của những nàng dâu Đồng Tiến như đă nói trên, nên trong những lần đại hội truyền thống hằng năm của Hội Ái Hữu Cựu Sĩ Quan Khóa 11 Đồng Tiến/LTVKTĐ quư chị nàng dâu Đồng Tiến được ban tổ chức đại hội vinh danh như là một trong những mục đích chính trong kỳ đại hội. Sự vinh danh dù chỉ với những lời ca tụng, tượng trưng một tấm plaque, một ṿng hoa, một cánh hồng v.v.… hay một nụ hôn của người phối ngẫu trên sân khấu đại hội không ngoài mục đích tôn vinh, tán dương ḷng chung thủy và công đức của quư chị đối với chồng với con và cũng để nêu tấm gương sáng chói cho thế hệ hậu duệ trong đại gia đ́nh Đồng Tiến noi theo.

Do đó, người viết thấy cần phải xác định là “nàng dâu Đồng Tiến” gắn liền với “ḷng chung thủy”.   Nều ai đó…chưa chứng nghiệm được ḷng chung thủy của ḿnh qua thời gian dài hàng chục, chục năm trời với Đồng Tiến và các con cái của họ, thời chưa phải là nàng dâu Đồng Tiến. V́ thế, người viết muốn đem chính bản thân ḿnh làm chứng nghiệm đối với quí chị nàng dâu Đồng Tiến. Giă dụ như bây giờ người viết có chung sống chính thức hay bán chính thức với một người đàn bà nào đó… (với điều kiện không được dính dáng ǵ trong đại gia đ́nh Đồng Tiến), cốt để chia sẻ những buồn vui trong cuộc sống ở cuối nẻo đường thiên lư trần gian nầy, và người đàn bà nầy nếu có đến tham dự sinh hoạt hay đại hội Đồng Tiến th́ cũng chỉ được xem như là bạn gái của người viết hay là một thân hữu của đại gia đ́nh Đồng Tiến, mà không hề có tư cách là một nàng dâu Đồng Tiến.

 

Nhân đây, người viết cũng xin trân trọng vinh danh quư bạn Đồng Tiến đă bị mồ côi vợ hàng mấy chục năm trời như : ĐT Lê Khải Hải, ĐT Phan Quang Thương, Đ T Nguyễn Hữu Toại v.v…vẫn một ḷng thủy chung thay vợ bảo bọc, nuôi dạy các con ăn học thành nhân, thật là điều rất hiếm trong cơi đời này; cũng như những chị quả  phụ nàng dâu Đồng Tiến mà chồng đă hy sinh trong cuộc chiến hay những năm tháng sau nầy vẫn một ḷng thủy chung thờ chồng nuôi con ăn học thành nhân như quư chị quả phụ Lữ Tây Tựu, Ngô Tùng Lam v. v … th́ thật vô cùng xứng đáng để cho chúng ta tôn vinh và ca ngợi vậy!

*     *

*

Cuối cùng, dù ở trong hoàn cảnh nào đi nữa, đă có những cuộc hội ngộ với những đoạn kết vô cùng tốt đẹp như trong truyện cổ tích do ḷng chung thủy, th́ cũng không thiếu những kết cuộc đầy nước mắt, chua cay và thù hận đến từ sự phản bội.

Những năm tháng gần đây, ḷng chung thủy lại được nhắc đến khi có những cặp vợ chồng được kết hợp bởi t́nh yêu và hôn nhân đă được ba bốn chục năm rồi, nhưng chỉ sau một, hai chuyến về thăm Việt Nam của người đàn ông th́ mọi chuyện đă trở thành bi kịch. Đă có không ít cuộc chia tay xảy ra của những cặp vợ chồng đă chung sống với nhau 3, 4 chục  năm trời, và cũng không thiếu những cuộc chia tay của những cặp vợ chồng trẻ mới cưới nhau có vài ba tháng hay một năm. Sự xét đoán hay phê phán ai đúng, ai sai ở đây không phải là vấn đề chính nữa, mà chỉ c̣n lại cái ḷng chung thủy của con người mà thôi.

 

Để kết thúc bài viết nây, người viết xin trân trọng tạ ơn đời, tạ ơn người, tạ ơn tất cả quư chị nàng dâu Đồng Tiến và luôn luôn ngưỡng mộ ḷng chung thủy của bất cứ ai trong cuộc sống b́nh thường và hy vọng trong đại gia đ́nh Đồng Tiến chúng ta luôn luôn giữ được ḷng chung thủy. Mong lắm thay!

                                                           

                                Mùa Thanksgiving 2007 Edit Text